Bài 17:  Thực trạng trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ khám giám định khuyết tại tỉnh Hưng Yên giaiđoạn 2020-2025

Tác giả: Phạm Quý Triều

DOI:

https://doi.org/10.62685/tbjmp.2026.21.17

Từ khóa:

Rối loạn phổ tự kỷ, giám định y khoa.

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ đến khám giám định chế độ khuyết tật; Đánh giá được mức độ tự kỷ theo thang điểm CARS; Phân loại mức độ khuyết tật ở nhóm trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ.
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 70 trẻ khám giám định chế độ khuyết tật mắc rối loạn phổ tự kỷ tại cơ sở 2 - Trung tâm Pháp Y và Giám định Y khoa tỉnh Hưng Yên trong 06 năm (2020-2025).
Kết quả: Tỷ lệ trẻ nam chiếm 87,1%, trẻ nữ chiếm 12,9%. Tuổi trung bình 6,69±2,68. Tỷ lệ trẻ ở nông thôn chiếm 78,6%, trẻ ở thành phố và thị trấn chiếm 21,4%. Tỷ lệ trẻ có suy giảm tương tác xã hội chiếm 100%, trẻ có khiếm khuyết giao tiếp chiếm 100%, trẻ có hành vi lặp lại chiếm 41,4%. Tỷ lệ trẻ giao tiếp bằng mắt kém chiếm 95,7%, trẻ không chỉ tay vào vật mà trẻ thích chiếm 82,9%, trẻ chậm nói hay chưa nói chiếm 80%, trẻ không chơi với bạn, chơi một mình chiếm 100%, trẻ phát ra chuỗi âm thanh khác thường chiếm 80%, trẻ chơi không đúng chức năng của đồ vật chiếm 81,4%, trẻ đi nhón gót, xoay vòng, múa tay chiếm 21,4%. Chỉ số trung bình thang CARS 42,31±3,72. Trẻ mắc tự kỷ mức độ  nặng chiếm 91,4%, mức độ nhẹ và trung bình chiếm 8,6%. Trẻ được kết luận mức độ khuyết tật nặng chiếm 94,3%, mức độ nhẹ chiếm 5,7. Trẻ được kết luận khuyết tật thần kinh tâm thần chiếm 34,4%, khuyết tật trí tuệ chiếm 72,9%, khuyết tật khác chiếm 58,6%. Sự khác biệt giữa giới tính và mức độ tự kỷ không có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Trẻ có độ tuổi từ 1 đến 10 mắc tự kỷ mức độ nặng cao hơn nhóm trên 10 tuổi với p<0,05. Tỷ lệ trẻ là con thứ hai trong gia đình trở lên thì mắc tự kỷ mức độ nặng cao hơn nhóm con đầu lòng với p<0,05.
Kết luận: Trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ đến khám giám định chế độ khuyết tật chủ yếu là trẻ nam, sống ở khu vực nông thôn, với các biểu hiện nổi bật về suy giảm tương tác xã hội và khiếm khuyết giao tiếp. Phần lớn trẻ được đánh giá ở mức tự kỷ nặng và được phân loại khuyết tật nặng. Mức độ tự kỷ có liên quan đến nhóm tuổi và thứ tự con trong gia đình, nhưng chưa ghi nhận sự khác biệt theo giới tính.

Số lượng Downloads

Hiện chưa có thể tải xuống dữ liệu.

Đã Xuất bản

28-04-2026

Số

Chuyên mục

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Cách trích dẫn

Bài 17:  Thực trạng trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ khám giám định khuyết tại tỉnh Hưng Yên giaiđoạn 2020-2025. (2026). TẠP CHÍ Y DƯỢC THÁI BÌNH, 2(21), 116-122. https://doi.org/10.62685/tbjmp.2026.21.17

Các bài báo tương tự

1-10 của 430

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.