Bài 20. Kết quả điều trị và tính an toàn của Secukinumab trên bệnh nhân vảy nến thông thường mức độ vừa và nặng tại Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa

Tác giả: Lương Đức Diễn

DOI:

https://doi.org/10.62685/tbjmp.2026.24.20

Từ khóa:

Secukinumab, vảy nến thông thường, PASI, DLQI, Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa.

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi chỉ số diện tích và mức độ nặng vảy nến (PASI), chỉ số chất lượng cuộc sống da liễu (DLQI), ghi nhận các biến cố bất lợi trong 12 tuần điều trị và thăm dò mối liên quan giữa một số đặc điểm lâm sàng, nhân khẩu học với đáp ứng điều trị bằng Secukinumab trên bệnh nhân vảy nến thông thường (VNTT) mức độ vừa đến nặng tại Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu tự đối chứng trên 30 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân VNTT mức độ vừa và nặng (PASI ≥ 10), chưa từng dùng thuốc sinh học (biologic-naive), hoàn thành lộ trình điều trị Secukinumab liều 300mg tại các mốc tuần 0, 1, 2, 3, 4, 8 và 12 tại Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa từ tháng 12/2025 đến tháng 03/2026. Các biến số được phân tích gồm tuổi, giới tính, tuổi khởi phát, thời gian mắc bệnh, tiền sử điều trị thuốc toàn thân cổ điển và mức độ bệnh ban đầu. Phép kiểm Paired Samples T-test được dùng để so sánh trung bình trước - sau điều trị; phép kiểm chính xác Fisher được sử dụng để đánh giá mối liên quan lâm sàng.
Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 51,08 ± 13,75, trong đó nam giới chiếm 86,7%. Sau 12 tuần điều trị, điểm PASI trung bình giảm rõ rệt từ 19,50 ± 7,83 xuống còn 0,40 ± 0,56 (p < 0,01). Tỷ lệ đạt đáp ứng PASI 75 và PASI 90 đều đạt 100%, tỷ lệ sạch tổn thương hoàn toàn (PASI 100) đạt 66,7% tại tuần 12. Tại tuần 8, 100% bệnh nhân đạt đích chất lượng cuộc sống DLQI 0/1, trong đó nhóm bệnh nhân trẻ tuổi đạt đích sớm hơn có ý nghĩa thống kê tại tuần 4 (p < 0,05). Chưa ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa đáp ứng điều trị tại tuần 12 với tuổi, giới tính, tuổi khởi phát, thời gian mắc bệnh, tiền sử điều trị thuốc toàn thân cổ điển và mức độ nặng ban đầu (p > 0,05). Biến cố bất lợi chủ yếu là đau khu trú tại chỗ tiêm (100%), ngứa (33,3%), sưng nhẹ (20%), đều ở mức độ nhẹ và tự giới hạn. Ghi nhận sự sụt giảm bạch cầu và tiểu cầu sau điều trị có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) nhưng đều nằm trong giới hạn sinh lý bình thường.
Kết luận: Điều trị Secukinumab 300mg mang lại kết quả cải thiện tổn thương da rõ rệt trong thực tế lâm sàng, giúp phục hồi nhanh chất lượng cuộc sống và có hồ sơ an toàn thuận lợi, dung nạp tốt cho bệnh nhân vảy nến thông thường mức độ vừa và nặng điều trị tại Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa

Số lượng Downloads

Hiện chưa có thể tải xuống dữ liệu.

Đã Xuất bản

28-08-2026

Số

Chuyên mục

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Cách trích dẫn

Bài 20. Kết quả điều trị và tính an toàn của Secukinumab trên bệnh nhân vảy nến thông thường mức độ vừa và nặng tại Bệnh viện Da liễu Thanh Hóa. (2026). TẠP CHÍ Y DƯỢC THÁI BÌNH, 159-166. https://doi.org/10.62685/tbjmp.2026.24.20

Các bài báo tương tự

51-60 của 499

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.