Bài 7. Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và mô bệnh học của bệnh nhân loét Dạ dày-Tá tràng tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình năm 2025-2026
DOI:
https://doi.org/10.62685/tbjmp.2026.24.07Từ khóa:
loét dạ dày, loét tá tràng; nội soi tiêu hoá trên; mô bệnh học.Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và mô bệnh học của bệnh nhân loét dạ dày–tá tràng tại Bệnh viện Đại học Y Thái Bình, năm 2025–2026.
Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 50 bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng. Chẩn đoán xác định loét dạ dày - tá tràng được thực hiện qua nội soi kết hợp sinh thiết để xét nghiệm mô bệnh học và đánh giá nhiễm Helicobacter pylori (H.pylori) bằng CLO test.
Kết quả: Tuổi trung bình là 58,54 ± 18,65 tuổi (thấp nhất 11 tuổi, cao nhất 88 tuổi). Bệnh nhân ≥ 60 tuổi chiếm chủ yếu (66,0%); nam chiếm 58,0% (tỷ lệ nam/nữ là 1,38/1). Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là rối loạn tiêu hóa (54%); đau vùng thượng vị (52%); ợ hơi, ợ chua (50%); các triệu chứng thực thể thường nghèo nàn. Hình ảnh nội soi ghi nhận 66,0% bệnh nhân chỉ loét ở dạ dày; 28% chỉ loét ở tá tràng và loét phối hợp là 6,0%. Tính trên tổng số ổ loét, đa số có 1 ổ loét (91,7% ở dạ dày và 88,2% ở tá tràng). Các ổ loét dạ dày đa số có kích thước < 1,0cm (45,5%) và hình dạng tròn (47,5%). Ổ loét tá tràng đa số có kích thước 1,0-2,0cm (68,4%) và hình dạng bầu dục (47,4%) chiếm ưu thế. Các ổ loét ở giai đoạn hoạt động (A1 và A2) thường gặp nhất ở cả nhóm loét dạ dày và các ổ loét tá tràng. Tỷ lệ nhiễm H.pylori xác định bằng Clo test là 70,0%. Mô bệnh học có tỷ lệ viêm mạn tính và viêm hoạt động chủ yếu ở mức độ vừa (36,0% và 28,0%); tỷ lệ không có tình trạng viêm teo chiếm cao nhất (40,0%) trong khi tỷ lệ viêm teo nặng thấp nhất (8,0%). Dị sản ruột gặp ở 26,0% và loạn sản gặp ở 18,0% đều là loạn sản mức độ thấp.
Kết luận: Bệnh loét dạ dày - tá tràng hay gặp ở nam giới cao tuổi, với các biểu hiện điển hình là rối loạn tiêu hóa và đau thượng vị. Hình ảnh nội soi ghi nhận đa số tổn thương là một ổ loét ở dạ dày, ở giai đoạn hoạt động và có tỷ lệ nhiễm H. pylori cao (70%). Đặc biệt, có mối liên quan chặt chẽ giữa hình thái tổn thương trên nội soi với mức độ viêm mạn tính, teo và loạn sản trên mô bệnh học, nhấn mạnh vai trò thiết yếu của sinh thiết trong định hướng dự phòng nguy cơ ác tính.
Số lượng Downloads
Đã Xuất bản
Số
Chuyên mục
Giấy phép
Bản quyền (c) 2026 Trần Thị Như Quỳnh (Tác giả)
Tác phẩm này được cấp phép theo Giấy phép Quốc tế Creative Commons Attribution-ShareAlike 4.0 .